Việt Nam cần phải thoát khỏi Trung Quốc?
Liên Bang Xô Viết thời Chiến Tranh Lạnh, những nhà lãnh đạo Đảng cộng sản Liên Xô cũng có khả năng huy động mọi nguồn lực(tư bản) rất mạnh, đưa tài nguyên vô cùng giàu có và lực lượng lao động dồi dào vào đầu tư cho sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân. Với sự chỉ đạo tập trung theo kế hoạch hóa, mang nặng tính quan liêu bao cấp tưởng là hợp lý của hệ thống này, đã khai thác nhiều tài nguyên Quốc gia cho tăng trưởng, bắn vệ tinh Sputnik lên trời và đưa được các phi hành gia lên được các không gian vũ trụ mà vẫn không có phát triển như mong đợi. Tụt hậu xa so với Phương Tây, Nước Nga vẫn nghèo, dân Nga vẫn khổ và Liên Xô tan rã.
Ở Trung Quốc khi Ðặng Tiểu Bình tiến hành cải cách, 35 năm về trước, Trung Quốc đã ra khỏi tình trạng bần cùng và loạn lạc thời Mao Trạch Đông và có đà tăng trưởng cao hơn trước. Bình quân gần 10% một năm trong ba chục năm liền. Lãnh đạo xứ này, từ Ðặng Tiểu Bình đến Giang Trạch Dân rồi Hồ Cẩm Ðào, đã áp dụng kinh tế thị trường cho vận hành nền kinh tế nhưng vẫn nắm độc quyền huy động mọi nguồn lực (tư bản)
Các chuyên gia kinh tế đã chỉ rõ kinh tế Trung Quốc vẫn lấy sức đẩy từ đầu tư và ức chế tiêu thụ của các hộ gia đình, dựa vào xuất khẩu là chính. Từ nhiều năm qua, tiêu thụ của tư nhân chẳng những không tăng mà còn giảm, năm 2013 thì chỉ có 34% của Tổng sản lượng, so với 52% của Nam Hàn, 57% của Ðức, 61% của Nhật và gần 70% của Hoa Kỳ là nơi mà “giới tiêu thụ là vua.”
Lượng đầu tư đến hơn 50% của Trung Quốc lại trút vào các dự án ít giá trị kinh tế, dẫn tới sản xuất thừa, dù có được tăng trưởng thì cũng chỉ là tồn kho ế ẩm, nhà không người ở, phi cảng vắng khách.... Không những vậy, từ 2008, trong sáu năm qua, Trung Quốc còn tài trợ đà tăng trưởng đó bằng tín dụng, ào ạt chảy vào khu vực kinh tế nhà nước, các công ty đầu tư của đảng bộ ở địa phương. Số tín dụng hay dư nợ từ 147% của Tổng Sản Lượng nay đã lên tới 251%. Một công ty đầu tư của Mỹ còn báo riêng cho các thân chủ là tổng số nợ của Trung Quốc, cả công lẫn tư, nay đã vượt 400% của Tổng sản lượng. Trong số này, những khoản nợ xấu được chính thức ước lượng là 1%. Thực tế thì có thể ở mức 25% hay thậm chí 40%. Tức là bằng hoặc còn hơn Tổng Sản Lượng. Thực tế này chứng tỏ kinh tế Trung Quốc vẫn chỉ thiên tăng trưởng quy mô (lượng), nhưng kém về (chất) hiệu quả và tính cạnh tranh của nền kinh tế. Nguyên do là hệ thống luật lệ, chính sách thuế khóa, quyền sở hữu, sự minh bạch và tín nhiệm trong kinh doanh, thiết chế cơ chế....(tư bản xã hội ) bị bóp méo, lệch lạc và tạo ra đặc lợi cho những kẻ có đặc quyền, các “nhóm lợi ích". Tham nhũng tràn lan, chế độ độc quyền của nhà nước còn đè nén sức tiêu thụ của người dân và dẫn tới sự bất mãn lan rộng. Hậu quả về kinh tế là nạn sản xuất thừa chỗ này mà thiếu ở chỗ khác, và hiện tượng bong bóng đầu cơ về gia cư, địa ốc. Rủi ro nhất và càng ngày càng lộ rõ là những núi nợ khổng lồ, Trung Quốc đang có nguy cơ của một cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng. Hậu quả về môi trường là nạn khai thác kiệt tài nguyên làm hủy hoại và gây ô nhiễm ngày càng trầm trọng. Giải quyết những hậu quả này sẽ là bài toán vừa kinh tế vừa xã hội và chắc chắn là chính trị của nhân vật đang lên là Chủ Tịch Tập Cận Bình.
Lên cầm quyền lãnh đạo vào cuối năm 2012 ban hành quyết định cải cách từ cuối năm 2013 (Nghị quyết Ba của hội nghị Ban Chấp Hành Trung Ương vào Tháng Mười Một năm 2013), Tập Cận Bình ý thức được mối nguy trước mặt. Cho nên phải chuyển hướng kinh tế qua khu vực dịch vụ và chế biến cao cấp, gia tăng sức tiêu thụ cho tư nhân, v.v.... và chấp nhận một đà tăng trưởng thấp hơn. Và muốn chủ động chuyển hướng như vậy, phải đánh bung những lực cản xuất phát ngay trong bộ máy đảng và hệ thống kinh tế nhà nước. Nhưng dù đã ráo riết tập trung quyền lực để có mọi quyền hành trong tay, nhằm tránh cho Trung Quốc lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, Tập Cận Bình vẫn bất lực bởi:
Một mặt Tập Cận Bình ráo riết mở rộng chiến dịch diệt trừ tham nhũng và không loại trừ ai, kể cả cựu ủy viên thường vụ Bộ chính trị như Chu Vĩnh Khang. Ông ta có thể đánh vào các trung tâm quyền lực đã gây ra nhiều vấn đề kinh tế, nên đang phải cùng lúc giải quyết hai bài toán kinh tế và chính trị. Hai bài toán là hai mặt của một thể chế độc đảng toàn trị và phải cần cả chục năm sửa đổi thì mới có kết quả. Trong khi đó khủng hoảng kinh tế của Trung quốc có thể xảy ra trong một vài năm gần nhất. Tập Cận Bình có đủ mọi quyền hành, nhưng không có thời gian để sửa chữa hậu quả của những người tiền nhiệm để lại.
Câu hỏi đặt ra là liệu Trung Quốc có tránh được sự đổ vỡ và tan rã như Liên Bang Xô Viết không? Nếu khủng hoảng xảy ra và không còn đường cứu vãn.
Với Việt Nam cùng ý thức hệ và có mô hình phát triển tương tự như Trung Quốc liệu có trụ vững được khi đã quá lệ thuộc vào một Trung Quốc đang gần ở bờ vực của khủng hoảng và tan rã?
Tiếp tục, câu hỏi đặt ra là càng sớm thoát khỏi Trung Quốc, Việt Nam càng nhanh tránh được vết xe đổ của nó, tìm được cho mình con đường tới thịnh vượng và tăng trưởng bền vững?
.
Liên Bang Xô Viết thời Chiến Tranh Lạnh, những nhà lãnh đạo Đảng cộng sản Liên Xô cũng có khả năng huy động mọi nguồn lực(tư bản) rất mạnh, đưa tài nguyên vô cùng giàu có và lực lượng lao động dồi dào vào đầu tư cho sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân. Với sự chỉ đạo tập trung theo kế hoạch hóa, mang nặng tính quan liêu bao cấp tưởng là hợp lý của hệ thống này, đã khai thác nhiều tài nguyên Quốc gia cho tăng trưởng, bắn vệ tinh Sputnik lên trời và đưa được các phi hành gia lên được các không gian vũ trụ mà vẫn không có phát triển như mong đợi. Tụt hậu xa so với Phương Tây, Nước Nga vẫn nghèo, dân Nga vẫn khổ và Liên Xô tan rã.
Ở Trung Quốc khi Ðặng Tiểu Bình tiến hành cải cách, 35 năm về trước, Trung Quốc đã ra khỏi tình trạng bần cùng và loạn lạc thời Mao Trạch Đông và có đà tăng trưởng cao hơn trước. Bình quân gần 10% một năm trong ba chục năm liền. Lãnh đạo xứ này, từ Ðặng Tiểu Bình đến Giang Trạch Dân rồi Hồ Cẩm Ðào, đã áp dụng kinh tế thị trường cho vận hành nền kinh tế nhưng vẫn nắm độc quyền huy động mọi nguồn lực (tư bản)
Các chuyên gia kinh tế đã chỉ rõ kinh tế Trung Quốc vẫn lấy sức đẩy từ đầu tư và ức chế tiêu thụ của các hộ gia đình, dựa vào xuất khẩu là chính. Từ nhiều năm qua, tiêu thụ của tư nhân chẳng những không tăng mà còn giảm, năm 2013 thì chỉ có 34% của Tổng sản lượng, so với 52% của Nam Hàn, 57% của Ðức, 61% của Nhật và gần 70% của Hoa Kỳ là nơi mà “giới tiêu thụ là vua.”
Lượng đầu tư đến hơn 50% của Trung Quốc lại trút vào các dự án ít giá trị kinh tế, dẫn tới sản xuất thừa, dù có được tăng trưởng thì cũng chỉ là tồn kho ế ẩm, nhà không người ở, phi cảng vắng khách.... Không những vậy, từ 2008, trong sáu năm qua, Trung Quốc còn tài trợ đà tăng trưởng đó bằng tín dụng, ào ạt chảy vào khu vực kinh tế nhà nước, các công ty đầu tư của đảng bộ ở địa phương. Số tín dụng hay dư nợ từ 147% của Tổng Sản Lượng nay đã lên tới 251%. Một công ty đầu tư của Mỹ còn báo riêng cho các thân chủ là tổng số nợ của Trung Quốc, cả công lẫn tư, nay đã vượt 400% của Tổng sản lượng. Trong số này, những khoản nợ xấu được chính thức ước lượng là 1%. Thực tế thì có thể ở mức 25% hay thậm chí 40%. Tức là bằng hoặc còn hơn Tổng Sản Lượng. Thực tế này chứng tỏ kinh tế Trung Quốc vẫn chỉ thiên tăng trưởng quy mô (lượng), nhưng kém về (chất) hiệu quả và tính cạnh tranh của nền kinh tế. Nguyên do là hệ thống luật lệ, chính sách thuế khóa, quyền sở hữu, sự minh bạch và tín nhiệm trong kinh doanh, thiết chế cơ chế....(tư bản xã hội ) bị bóp méo, lệch lạc và tạo ra đặc lợi cho những kẻ có đặc quyền, các “nhóm lợi ích". Tham nhũng tràn lan, chế độ độc quyền của nhà nước còn đè nén sức tiêu thụ của người dân và dẫn tới sự bất mãn lan rộng. Hậu quả về kinh tế là nạn sản xuất thừa chỗ này mà thiếu ở chỗ khác, và hiện tượng bong bóng đầu cơ về gia cư, địa ốc. Rủi ro nhất và càng ngày càng lộ rõ là những núi nợ khổng lồ, Trung Quốc đang có nguy cơ của một cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng. Hậu quả về môi trường là nạn khai thác kiệt tài nguyên làm hủy hoại và gây ô nhiễm ngày càng trầm trọng. Giải quyết những hậu quả này sẽ là bài toán vừa kinh tế vừa xã hội và chắc chắn là chính trị của nhân vật đang lên là Chủ Tịch Tập Cận Bình.
Lên cầm quyền lãnh đạo vào cuối năm 2012 ban hành quyết định cải cách từ cuối năm 2013 (Nghị quyết Ba của hội nghị Ban Chấp Hành Trung Ương vào Tháng Mười Một năm 2013), Tập Cận Bình ý thức được mối nguy trước mặt. Cho nên phải chuyển hướng kinh tế qua khu vực dịch vụ và chế biến cao cấp, gia tăng sức tiêu thụ cho tư nhân, v.v.... và chấp nhận một đà tăng trưởng thấp hơn. Và muốn chủ động chuyển hướng như vậy, phải đánh bung những lực cản xuất phát ngay trong bộ máy đảng và hệ thống kinh tế nhà nước. Nhưng dù đã ráo riết tập trung quyền lực để có mọi quyền hành trong tay, nhằm tránh cho Trung Quốc lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, Tập Cận Bình vẫn bất lực bởi:
Một mặt Tập Cận Bình ráo riết mở rộng chiến dịch diệt trừ tham nhũng và không loại trừ ai, kể cả cựu ủy viên thường vụ Bộ chính trị như Chu Vĩnh Khang. Ông ta có thể đánh vào các trung tâm quyền lực đã gây ra nhiều vấn đề kinh tế, nên đang phải cùng lúc giải quyết hai bài toán kinh tế và chính trị. Hai bài toán là hai mặt của một thể chế độc đảng toàn trị và phải cần cả chục năm sửa đổi thì mới có kết quả. Trong khi đó khủng hoảng kinh tế của Trung quốc có thể xảy ra trong một vài năm gần nhất. Tập Cận Bình có đủ mọi quyền hành, nhưng không có thời gian để sửa chữa hậu quả của những người tiền nhiệm để lại.
Câu hỏi đặt ra là liệu Trung Quốc có tránh được sự đổ vỡ và tan rã như Liên Bang Xô Viết không? Nếu khủng hoảng xảy ra và không còn đường cứu vãn.
Với Việt Nam cùng ý thức hệ và có mô hình phát triển tương tự như Trung Quốc liệu có trụ vững được khi đã quá lệ thuộc vào một Trung Quốc đang gần ở bờ vực của khủng hoảng và tan rã?
Tiếp tục, câu hỏi đặt ra là càng sớm thoát khỏi Trung Quốc, Việt Nam càng nhanh tránh được vết xe đổ của nó, tìm được cho mình con đường tới thịnh vượng và tăng trưởng bền vững?
.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét